Công nghiệp hỗ trợ đang trở thành một mắt xích chiến lược trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Việt Nam, đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao năng lực tự chủ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững. Nếu như trước đây, khái niệm công nghiệp hỗ trợ thường bị giới hạn trong vai trò cung ứng linh kiện, phụ tùng, nguyên vật liệu cho các ngành sản xuất chủ lực thì hiện nay, nó được nhìn nhận rộng hơn như một nền tảng quan trọng, bảo đảm tính ổn định của sản xuất, gia tăng giá trị nội địa và cải thiện sức cạnh tranh quốc gia.

Năm 2024 đánh dấu sự phục hồi mạnh mẽ của xuất khẩu Việt Nam sau giai đoạn khó khăn do biến động kinh tế toàn cầu. Theo số liệu từ Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm ước đạt 783 tỷ USD, cao hơn hơn 100 tỷ USD so với mức 681 tỷ USD của năm 2023, trong đó xuất khẩu đạt 403 tỷ USD và nhập khẩu ở mức 380 tỷ USD. Đây là kỷ lục mới của thương mại Việt Nam, phản ánh sự vận hành hiệu quả của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vốn chiếm gần 85% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đặc biệt, nhiều mặt hàng chủ lực vốn gặp khó khăn trong năm trước đã nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng ấn tượng: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 71,7 tỷ USD, tăng 25%; điện thoại và linh kiện đạt 53,9 tỷ USD, tăng 2,9%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 52,6 tỷ USD, tăng 22%; hàng dệt may đạt 37 tỷ USD, tăng 11,2%; giày dép các loại đạt 22,9 tỷ USD, tăng 13%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 16,2 tỷ USD, tăng 20,3%; sắt thép đạt 9,3 tỷ USD, tăng 11,8%. Những con số này cho thấy vai trò của công nghiệp hỗ trợ trong việc bảo đảm nguồn cung linh kiện và phụ tùng cho sản xuất, cũng như khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu.

Việt Nam hiện sở hữu nhiều lợi thế cạnh tranh tự nhiên và chiến lược. Nguồn lao động dồi dào, giá nhân công cạnh tranh, vị trí địa lý nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á – một trong những khu vực kinh tế năng động nhất thế giới – đã giúp quốc gia này thu hút làn sóng đầu tư nước ngoài mạnh mẽ, đặc biệt vào các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như điện tử, bán dẫn, ô tô. Không chỉ các dự án FDI mới liên tục xuất hiện, nhiều tập đoàn đa quốc gia đã mở rộng quy mô sản xuất, kéo theo sự phát triển nhanh của hệ thống cung ứng linh kiện và phụ tùng trong nước. Xu hướng này không chỉ giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao trình độ sản xuất và năng lực quản trị cho doanh nghiệp nội địa. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và RCEP tiếp tục đóng vai trò mở cánh cửa thị trường lớn, giảm thuế quan và khuyến khích doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nâng cao tiêu chuẩn để đáp ứng yêu cầu của các đối tác quốc tế.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công nghiệp hỗ trợ, Chính phủ và Bộ Công Thương đã xây dựng và triển khai nhiều chính sách khuyến khích, ưu đãi và hỗ trợ. Các chương trình tập trung vào việc nâng cao năng lực nghiên cứu – phát triển, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển thị trường trong nước. Cùng với đó, sự gia tăng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu đang tạo ra nhu cầu tiêu thụ lớn về các sản phẩm công nghiệp và linh kiện ở các ngành ô tô, điện tử, cơ khí, dệt may, da giày. Đây là điều kiện thuận lợi để mở rộng sản xuất, hình thành các cụm công nghiệp hỗ trợ chuyên ngành và thúc đẩy sự phát triển của chuỗi cung ứng nội địa.
Tuy vậy, ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức. Phần lớn doanh nghiệp trong ngành là nhỏ và vừa, vốn ít, công nghệ lạc hậu, năng lực quản trị hạn chế, khó mở rộng sản xuất hoặc đầu tư đổi mới. Liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và các tập đoàn FDI còn lỏng lẻo, khiến cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu bị thu hẹp. Xuất khẩu linh kiện, phụ tùng vẫn chủ yếu do khối FDI đảm nhiệm, trong khi các doanh nghiệp trong nước chưa tạo dựng được thương hiệu và vị thế cạnh tranh quốc tế. Đặc biệt, ngành thiếu vắng những doanh nghiệp đầu tàu có tầm vóc khu vực và toàn cầu, đóng vai trò dẫn dắt, định hướng phát triển và lan tỏa công nghệ.
Để tháo gỡ các nút thắt này, Chính phủ đã triển khai hàng loạt chính sách và giải pháp đồng bộ. Nghị định 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ, Quyết định 68/QĐ-TTg năm 2017 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2016–2025, Nghị quyết 115/NQ-CP năm 2020 về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ, cùng Nghị định 32/NĐ-CP năm 2024 về quản lý, phát triển cụm công nghiệp là những văn bản pháp lý quan trọng tạo hành lang cho ngành. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương đang triển khai xây dựng các trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp ở cả miền Bắc và miền Nam, tham khảo kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, nhằm hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực quản trị cho doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu khắt khe của các tập đoàn đa quốc gia và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đặc biệt, Nghị định 205/2025/NĐ-CP ban hành 14/7/2025 có hiệu lực từ ngày 1/9/2025, sửa đổi, bổ sung Nghị định 111/2015/NĐ-CP, tập trung vào các chính sách hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao công nghệ để sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Đây là bước tiến quan trọng giúp hiện đại hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững. Song song, việc chuẩn bị xây dựng Luật Sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm sẽ tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ưu tiên phát triển các ngành dệt may, da giày, cơ khí, điện tử, ô tô và công nghệ cao – những lĩnh vực vừa có lợi thế cạnh tranh, vừa có khả năng lan tỏa mạnh mẽ tới toàn bộ nền kinh tế.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, tương lai của công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phụ thuộc vào khả năng hình thành một hệ sinh thái phát triển mạnh, với sự gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp nội địa, doanh nghiệp FDI và các tập đoàn đa quốc gia. Bên cạnh việc tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài, cần tập trung bồi dưỡng, hỗ trợ để doanh nghiệp trong nước trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 cho các đối tác lớn, đủ sức đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Đầu tư vào công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, phát triển nhân lực chất lượng cao, cùng với chính sách hỗ trợ hợp lý, sẽ là chìa khóa để nâng tầm ngành công nghiệp hỗ trợ. Khi những điều kiện này được đáp ứng, công nghiệp hỗ trợ sẽ không chỉ đảm nhiệm vai trò “hậu cần” của sản xuất mà còn trở thành động lực chiến lược, góp phần tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao tính tự chủ và sức cạnh tranh quốc gia, đưa Việt Nam tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới.
- Lễ khởi công Dự án tuyến tàu điện ngầm số 2 TP. Hồ Chí Minh (Bến Thành – Tham Lương)
- Công đoàn LILAMA 18 quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong nhiệm kỳ mới
- HỘI THẢO NGÀNH THÉP VIỆT NAM 2025: Ngành thép Việt Nam - Hướng tới phát triển bền vững
- Từ cơ hội đường sắt trăm tỷ đô đến công cuộc hiện đại hóa công nghiệp cơ khí Việt Nam
- Việt Nam áp dụng tiêu chuẩn và quy định môi trường mới nhằm thúc đẩy đầu tư xanh
- Thị trường cho các doanh nghiệp CNHT ngành cơ khí: Từ sàn triển lãm đến hợp đồng dài hạn
- Kết nối đối tác quốc tế cho công nghiệp hỗ trợ cơ khí Việt Nam
- Gỡ điểm nghẽn pháp lý - Mở đường cho doanh nghiệp cất cánh
- Hội thảo Bàn Giải Pháp Xác Định Xuất Xứ Việt Nam Cho Hàng Hóa Lưu Thông Trong Nước: Đặt...
- THÔNG BÁO ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CHÍNH THỨC ĐỐI VỚI MỘT SỐ SẢN PHẨM THÉP CÁN NÓNG...



.jpg)

Bình luận (0)