Ngành công nghiệp cơ khí đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền móng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong giai đoạn 2018-2023, Chiến lược phát triển công nghiệp cơ khí Việt Nam theo Quyết định 319/QĐ-TTg đã được triển khai với nhiều mục tiêu kỳ vọng lớn. Tuy nhiên, kết quả thực hiện lại cho thấy một bức tranh nhiều sắc thái với những điểm sáng đáng ghi nhận song vẫn tồn tại không ít hạn chế, đòi hỏi sự nhìn nhận nghiêm túc và điều chỉnh chiến lược để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Một trong những dấu ấn lớn của ngành cơ khí Việt Nam trong 5 năm qua là sự gia tăng giá trị sản xuất, đặc biệt từ khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Theo số liệu, khu vực FDI chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong sản xuất, từ 59,76% năm 2018 tăng lên 64,16% năm 2022. Điều này phản ánh sự thành công trong việc thu hút vốn nước ngoài, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của FDI trong việc tạo động lực cho ngành. Tuy nhiên, mặt trái của điều này là sự giảm sút tỷ trọng của khu vực Nhà nước và Ngoài Nhà nước, khiến các doanh nghiệp nội địa ngày càng phụ thuộc vào vốn và công nghệ từ nước ngoài.

Ngành cơ khí Việt Nam cũng đạt được những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực xuất khẩu. Trong giai đoạn 2018-2022, giá trị xuất khẩu tăng mạnh, đạt đỉnh vào năm 2022 với 45,75 tỷ USD. Khu vực FDI tiếp tục là động lực chính, chiếm 93% tổng giá trị xuất khẩu, cho thấy sự hiệu quả trong hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, sự phụ thuộc quá lớn vào khu vực FDI đặt ra bài toán lớn về tự chủ công nghệ và gia tăng giá trị nội địa. Bên cạnh đó, năm 2023 chứng kiến sự giảm nhẹ trong xuất khẩu (-5,7%) do các yếu tố kinh tế toàn cầu, làm nổi bật tính bấp bênh của sự phụ thuộc vào thị trường quốc tế.
Ngược lại, tình hình nhập khẩu cơ khí trong giai đoạn này thể hiện sự chuyển biến tích cực. Giá trị nhập khẩu đạt đỉnh vào năm 2021 với 46,3 tỷ USD nhưng giảm dần trong các năm sau đó. Điều này phần nào phản ánh sự cải thiện về năng lực sản xuất trong nước. Tuy nhiên, khu vực FDI vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong nhập khẩu, nhấn mạnh sự phụ thuộc vào linh kiện và thiết bị nước ngoài, đặc biệt trong các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao.
Khi đi sâu vào từng ngành trọng điểm, nhiều vấn đề nổi cộm tiếp tục được ghi nhận. Ngành công nghiệp ô tô, được kỳ vọng là động lực lớn cho sự phát triển của ngành cơ khí, đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng. Tỷ lệ nội địa hóa đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi chỉ đạt 7-10%, thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu 30-40% và so với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan (65-70%). Hầu hết các linh kiện có giá trị gia tăng cao như động cơ, hộp số vẫn phải nhập khẩu. Điều này không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn hạn chế khả năng cạnh tranh của ngành ô tô trong nước.

Ngành công nghiệp chế tạo thiết bị toàn bộ, bao gồm các nhà máy nhiệt điện, thủy điện và khai thác khoáng sản, đạt được một số kết quả nhất định trong việc nội địa hóa thiết bị. Các doanh nghiệp trong nước đã làm chủ một phần việc chế tạo các thiết bị quan trọng như hệ thống bốc dỡ than hay lọc bụi tĩnh điện. Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hóa vẫn rất thấp (chỉ 25%), do thiếu các cơ chế hỗ trợ và sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nhà thầu quốc tế. Tương tự, ngành công nghiệp đóng tàu, từng là điểm sáng, hiện vẫn đối mặt với những khó khăn lớn từ nợ xấu và sự suy giảm năng lực cạnh tranh.

Đối với ngành công nghiệp điện, mặc dù đã sản xuất được một số thiết bị như máy biến áp dưới 200kV và tủ bảng điện, nhưng các thiết bị quan trọng hơn như máy biến áp 500kV, kháng điện, và hệ thống đo lường vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu. Sự thiếu vắng các tiêu chuẩn nội địa phù hợp với quốc tế và cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm đã khiến ngành công nghiệp điện chưa thể đáp ứng nhu cầu nội địa hóa.
Ngành đường sắt, với tiềm năng lớn trong việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, cũng chưa phát huy được hết khả năng. Các doanh nghiệp trong nước chỉ mới tập trung vào việc sản xuất toa xe khách và toa xe hàng với tốc độ tối đa dưới 120 km/h, trong khi các thiết bị cao cấp hơn như đầu máy và hệ thống điều khiển vẫn phải nhập khẩu. Sự thiếu đầu tư vào lĩnh vực này đã kìm hãm khả năng phát triển của ngành cơ khí đường sắt.

Những vấn đề trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, bao gồm việc thiếu triển khai các giải pháp quan trọng trong Chiến lược. Một trong những nguyên nhân lớn nhất là việc chưa tạo lập được thị trường nội địa ổn định cho ngành cơ khí. Các doanh nghiệp trong nước phải tự tìm kiếm đơn hàng và thường không cạnh tranh được với các nhà thầu nước ngoài trong các dự án lớn. Đồng thời, việc thiếu chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ và phát triển nguồn nhân lực đã hạn chế khả năng tham gia vào các dự án phức tạp và có hàm lượng công nghệ cao.
Bên cạnh đó, danh mục các sản phẩm cơ khí trọng điểm được xác định trong Chiến lược hiện đã không còn phù hợp với bối cảnh mới. Nhiều sản phẩm như thiết bị nhà máy nhiệt điện than không còn nằm trong kế hoạch phát triển của chính phủ do yêu cầu giảm phát thải. Điều này đòi hỏi phải rà soát và điều chỉnh danh mục để phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế xanh và công nghệ cao.
Hướng đi cho giai đoạn mới
Nhìn về tương lai, để ngành công nghiệp cơ khí phát triển bền vững, việc điều chỉnh Chiến lược là điều cần thiết. Một số giải pháp quan trọng có thể bao gồm:
- Xác định lại danh mục sản phẩm trọng điểm: Tập trung vào các sản phẩm có nhu cầu lớn, thân thiện với môi trường, và áp dụng công nghệ cao như xe điện, thiết bị năng lượng tái tạo, và hệ thống đường sắt cao tốc.
- Tăng cường chính sách bảo hộ và tạo lập thị trường nội địa: Ban hành các quy định bảo vệ sản phẩm trong nước, đồng thời khuyến khích sử dụng sản phẩm nội địa trong các dự án đầu tư công.
- Thu hút đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực doanh nghiệp: Hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ hiện đại thông qua hợp tác với các tập đoàn đa quốc gia, đồng thời đầu tư vào đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và kiểm định chất lượng: Phát triển các tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với quốc tế, cùng với hệ thống kiểm định chất lượng nội địa, để nâng cao uy tín sản phẩm cơ khí Việt Nam.
- Khuyến khích đổi mới sáng tạo: Hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu và phát triển (R&D), tạo cơ chế ưu đãi về tài chính và thuế để khuyến khích đổi mới công nghệ.
Với những điều chỉnh chiến lược hợp lý, ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam không chỉ có thể đáp ứng tốt nhu cầu trong nước mà còn vươn ra thị trường quốc tế, góp phần xây dựng nền kinh tế tự chủ và bền vững. Giai đoạn 5 năm tới sẽ là cơ hội để ngành cơ khí khẳng định vị thế của mình, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Lễ khởi công Dự án tuyến tàu điện ngầm số 2 TP. Hồ Chí Minh (Bến Thành – Tham Lương)
- Công đoàn LILAMA 18 quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong nhiệm kỳ mới
- HỘI THẢO NGÀNH THÉP VIỆT NAM 2025: Ngành thép Việt Nam - Hướng tới phát triển bền vững
- Từ cơ hội đường sắt trăm tỷ đô đến công cuộc hiện đại hóa công nghiệp cơ khí Việt Nam
- Việt Nam áp dụng tiêu chuẩn và quy định môi trường mới nhằm thúc đẩy đầu tư xanh
- Thị trường cho các doanh nghiệp CNHT ngành cơ khí: Từ sàn triển lãm đến hợp đồng dài hạn
- Kết nối đối tác quốc tế cho công nghiệp hỗ trợ cơ khí Việt Nam
- Vai trò chiến lược của công nghiệp hỗ trợ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Gỡ điểm nghẽn pháp lý - Mở đường cho doanh nghiệp cất cánh
- Hội thảo Bàn Giải Pháp Xác Định Xuất Xứ Việt Nam Cho Hàng Hóa Lưu Thông Trong Nước: Đặt...



-2.png)

Bình luận (0)