Kinh tế xanh (Green economy) là nền kinh tế ít carbon, giảm thiểu mối nguy hại đến môi trường cũng như tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Với chủ trương "không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần", Việt Nam xác định tăng trưởng xanh phải góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nhằm đạt được thịnh vượng về kinh tế, bền vững môi trường và công bằng xã hội; hướng tới nền kinh tế xanh, trung hòa carbon và đóng góp vào mục tiêu giảm sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu...
Để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, Đảng, Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương, định hướng phát triển, trong đó có Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050. Chiến lược khẳng định: “Tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu”.
Theo Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), kinh tế xanh được định nghĩa là “nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các nguy cơ môi trường và suy giảm sinh thái. Một nền kinh tế xanh có thể được coi là nền kinh tế có lượng phát thải carbon thấp, sử dụng tài nguyên hiệu quả và bao trùm xã hội”.
Còn theo Ngân hàng Thế giới (WB, 2012b), kinh tế xanh là “phát triển kinh tế đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó giảm thiểu ô nhiễm và tác động đến môi trường, tăng cường khả năng phục hồi trước biến đổi tự nhiên, đẩy mạnh vai trò của quản lý nhà nước về môi trường và nguồn lực tự nhiên trong việc ngăn ngừa các thảm họa từ thiên nhiên”.
Nhìn một cách tổng quan, kinh tế xanh (Green economy) là nền kinh tế ít carbon, giảm thiểu mối nguy hại đến môi trường cũng như tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Ý nghĩa cốt lõi của nó là tăng trưởng kinh tế đồng thời bảo vệ môi trường sống trong sạch và bền vững. Nền kinh tế xanh mang lại ý nghĩa quan trọng về khía cạnh tài chính và môi trường: Khuyến khích sự phát triển bền vững; Hỗ trợ trong việc đối phó với biến đổi khí hậu; cải thiện hệ sinh thái và gia tăng tính công bằng.
Theo báo cáo Global Green Economy Index cập nhật năm 2024, Việt Nam đứng thứ 79 trên 160 quốc gia về chỉ số kinh tế xanh. Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm kinh tế xanh gắn liền với tăng trưởng xanh được đưa ra vào năm 2012 trong Chiến lược quốc gia đầu tiên mang tính tổng thể về lĩnh vực phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam.
Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định về định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”.
Mục tiêu chung của kinh tế xanh ở Việt Nam nhằm đạt tới: “Tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế các-bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội”.
Đặc biệt, lần đầu tiên, nội hàm của kinh tế xanh ở Việt Nam được Chính phủ xác định: “Tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu”; Trong đó, có 3 nhiệm vụ chiến lược được lựa chọn: Một, giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; Hai, xanh hóa sản xuất; Ba, xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững (xem hình 1 dưới).

Hình 1.
Trong những năm qua, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch hành động và văn bản chỉ đạo điều hành về phát triển kinh tế xanh, tăng trưởng bền vững và bảo vệ môi trường, đặc biệt là các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, như: Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững; Quyết định số 1670/QĐ-TTg ngày 31/10/2017 phê duyệt Chương trình mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050; Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 02/5/2024 về tăng cường công tác quản lý tín chỉ cacbon ...
Về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, thời gian qua Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm hướng dẫn, yêu cầu các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân giảm nhẹ phát thải khí nhà kính như Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ về việc quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng Ô-dôn; Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính.
Tại Hội nghị Khí hậu COP 26 (diễn ra từ ngày 31/10 đến 13/11/2021 tại thành phố Glasgow, Scotland, Vương quốc Anh), Việt Nam đã gây ấn tượng với cam kết đến năm 2050 đạt phát thải ròng bằng 0, nâng tỉ lệ năng lượng tái tạo trên 30% trong tổng nguồn cung năng lượng sơ cấp và tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 43%, đã thể hiện mục tiêu mạnh mẽ của nước ta về tái cơ cấu mô hình tăng trưởng hướng tới phát triển kinh tế xanh bền vững.
Diễn đàn Kinh tế xanh năm 2024 tổ chức ngày 21/10 tại Thành phố Hồ Chí Minh với chủ đề "Kiến tạo Tương lai xanh" thể hiện Việt Nam quyết tâm xây dựng một nền kinh tế xanh và bền vững, đồng thời tham gia vào nỗ lực chung trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu.

Hình 2: Các đại biểu cấp cao chụp hình lưu niệm tại Diễn đàn ở TP. HCM
Chính phủ đã triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, đạt kết quả tích cực trên nhiều mặt. Cụ thể là ban hành các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng, thực hiện cam kết trung hòa carbon, điển hình như Kế hoạch thực hiện Quy hoạch Điện VIII, Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đến 2030; Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp, Bộ chỉ tiêu thống kê tăng trưởng xanh… Đồng thời, hoàn thiện các chính sách về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, nổi bật là Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước và Luật Điện lực đang được sửa đổi.
Cùng với đó, Việt Nam từng bước phát triển các thị trường quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên, tín chỉ carbon… với mong muốn song hành và hội nhập với thế giới trong lĩnh vực xanh. Việt Nam đã ban hành cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo với khách hàng sử dụng điện lớn và dự kiến sẽ triển khai thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon trong năm 2025. Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong đó xác định lộ trình triển khai thí điểm từ năm 2025 đến hết năm 2028 và giai đoạn vận hành chính thức từ năm 2029. Hàng hóa trên thị trường carbon gồm hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.
Ngoài ra, nhóm giải pháp cũng đang được triển khai tích cực là khơi thông nguồn lực ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là tại đồng bằng sông Cửu Long. Chỉ trong một thời gian ngắn, Chính phủ tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ triển khai 16 dự án phát triển bền vững với vốn vay khoảng 2,5 tỷ USD. Tiếp theo, Chính phủ cùng với cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi sản xuất, đáp ứng các tiêu chuẩn mới, tiêu chuẩn xanh, phát thải carbon, tiêu chuẩn môi trường-xã hội-quản trị (ESG).
Đáng chú ý, Việt Nam đã công bố Kế hoạch huy động nguồn lực thực hiện Tuyên bố Chính trị thiết lập đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) và xác định các dự án quan trọng trong khuôn khổ sáng kiến Cộng đồng không phát thải châu Á (AZEC). Với mong muốn chung tay với quốc tế thúc đẩy tiến trình xanh hóa toàn cầu, dù là nước đang phát triển, còn hạn chế về nguồn lực và chủ yếu đang tiếp nhận đầu tư, viện trợ xanh, Việt Nam sẽ đăng cai Hội nghị thượng đỉnh Đối tác tăng trưởng xanh và các mục tiêu toàn cầu (P4G) vào năm 2025.

Hình 3: Hình minh họa điện mặt trời.
Trong nền kinh tế xanh và tăng trưởng xanh tại Việt Nam và trên thế giới, cơ hội của ngành cơ khí chế tạo nói chung và công nghiệp hỗ trợ là rất lớn, nhờ vào xu hướng chuyển đổi sang các mô hình kinh tế bền vững, giảm phát thải carbon và sử dụng tài nguyên hiệu quả. Chúng ta có thể thấy các cơ hội chính sau đây:
-
Sản xuất thiết bị năng lượng tái tạo: Nhu cầu về năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió, thủy điện nhỏ, sinh khối) tăng mạnh. Ngành cơ khí chế tạo có cơ hội sản xuất các thiết bị như turbine gió, tấm pin mặt trời, hệ thống lưu trữ năng lượng, và các linh kiện liên quan. Ví dụ: Các nhà máy cơ khí có thể chế tạo khung, cánh quạt, hoặc các bộ phận cho turbine gió, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
-
Phát triển công nghệ sản xuất sạch: Kinh tế xanh yêu cầu các quy trình sản xuất ít phát thải, sử dụng công nghệ tiên tiến như tự động hóa, robot, và in 3D. Ngành cơ khí chế tạo có thể cung cấp máy móc, thiết bị hiện đại hỗ trợ sản xuất xanh, giảm tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu. Các thiết bị như máy CNC tiết kiệm năng lượng hoặc hệ thống tái chế vật liệu trong sản xuất là những lĩnh vực tiềm năng.
-
Giao thông vận tải xanh: Sự phát triển của xe điện (EV), xe chạy bằng hydro, và phương tiện giao thông công cộng thân thiện với môi trường mở ra cơ hội cho ngành cơ khí chế tạo và CNHT trong việc sản xuất linh kiện ô tô, pin, hệ thống truyền động, và các bộ phận, chi tiết cho xe điện. Ví dụ: Sản xuất khung xe, động cơ điện, hoặc các bộ phận cho hệ thống tàu điện, metro.
-
Tái chế và kinh tế tuần hoàn: Kinh tế xanh thúc đẩy tái chế và tái sử dụng tài nguyên. Ngành cơ khí chế tạo có thể tham gia vào việc thiết kế, sản xuất các hệ thống tái chế tiên tiến, máy móc xử lý rác thải, hoặc thiết bị phục vụ nền kinh tế tuần hoàn. Ví dụ: Máy móc phân loại rác tự động, thiết bị tái chế nhựa, hoặc dây chuyền xử lý chất thải công nghiệp.
-
Ứng dụng vật liệu xanh: Ngành cơ khí chế tạo có thể tập trung vào nghiên cứu và sản xuất các vật liệu mới, thân thiện với môi trường như hợp kim nhẹ, vật liệu composite, hoặc thép tái chế. Những vật liệu này được sử dụng rộng rãi để sản xuất các cụm, chi tiết trong các ngành công nghiệp xanh như xây dựng, ô tô, và hàng không.
-
Hỗ trợ chuyển đổi số và công nghiệp 4.0: Tăng trưởng xanh đi đôi với chuyển đổi số. Ngành cơ khí chế tạo có thể phát triển các thiết bị tích hợp IoT, AI để tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm lãng phí năng lượng, và nâng cao hiệu suất. Ví dụ: Hệ thống giám sát năng lượng thông minh hoặc máy móc tự động hóa trong các nhà máy xanh.
-
Tham gia vào chuỗi cung ứng bền vững và hội nhập quốc tế: Cơ khí và CNHT Việt Nam có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong các ngành công nghiệp xanh nhờ các hiệp định thương mại tự do (FTA). Ngành cơ khí chế tạo có thể tận dụng cơ hội để xuất khẩu linh kiện, máy móc cho các thị trường yêu cầu cao về tiêu chuẩn môi trường như EU, Nhật Bản, hoặc Hoa Kỳ.
Bên cạnh cơ hội, ngành cơ khí chế tạo cũng gặp các thách thức cần lưu ý như sau: Công nghệ và vốn; Ngành cơ khí chế tạo cần đầu tư vào nghiên cứu, phát triển (R&D) và hiện đại hóa công nghệ để đáp ứng tiêu chuẩn xanh. Điều này đòi hỏi nguồn vốn lớn và nhân lực chất lượng cao. Các quốc gia phát triển có lợi thế về công nghệ và quy mô, đòi hỏi Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngành cơ khí và CNHT cần có các chính sách khuyến khích từ Chính phủ như ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn, hoặc chương trình đào tạo nhân lực để thúc đẩy ngành cơ khí chế tạo xanh.
Chúng tôi cho rằng, ngành cơ khí chế tạo có vai trò then chốt trong việc hỗ trợ nền kinh tế xanh thông qua việc cung cấp công nghệ, thiết bị, và giải pháp cho các ngành năng lượng tái tạo, giao thông xanh, và kinh tế tuần hoàn. Để tận dụng cơ hội, các doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh, và tận dụng chính sách hỗ trợ từ nhà nước./.
Nguồn tham khảo: Green economy, QĐ số 1658/QĐ-TTg
- Bức tranh cơ khí chế tạo của Việt Nam vào cuối năm 2025 — Tăng trưởng, Thách thức và...
- Tọa đàm “Kết nối Doanh nghiệp – Sinh viên”: Bước đệm cho nguồn nhân lực kỹ thuật chất...
- Từ gia công đơn giản đến nhà cung ứng giá trị cao: Vai trò của hàm lượng công nghệ trong...
- Diễn đàn cấp cao CMES 2025: Thúc đẩy đổi mới Công nghiệp 4.0 và số hóa máy công cụ thông...
- Chuẩn hóa, đặt hàng tập trung và nội địa hóa để phát triển thị trường đường sắt
- Cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp điện năng lượng tái tạo Việt Nam...
- Kết nối doanh nghiệp Việt Nam – Ấn Độ: Thúc đẩy hợp tác đầu tư với bang Himachal Pradesh
- Thoát khỏi “vòng xoáy gia công”: Công nghiệp Việt cần liên kết và tự chủ
- Biến khát vọng thành cơ hội: Đặt nền móng cho công nghiệp hàng không Việt Nam
- Ảnh hưởng của việc chuyển đổi xe xăng dầu sang xe sử dụng nhiên liệu thân thiện với môi...



-2.png)

Bình luận (0)